Lời tòa soạn: Các dân tộc Á Đông có một nền văn minh vô cùng xán lạn. Lịch sử Á Đông nói chung, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, rất hào hùng, tràn đầy khí chất. Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và ngụy tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu của người Á Đông, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Việt Nam, Trung Hoa… gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.

Loạt bài dài kỳ: Phong vân mạn đàm 

Lý Tư can gián Tần vương dừng việc trục xuất tân khách đã thay đổi chủ kiến của Tần vương, Tần vương bèn tiêu huỷ lệnh đó và gọi Lý Tư vào cung. Lý Tư hiến kế sách thống nhất thiên hạ, tức là sử dụng một lượng lớn tiền của để mua chuộc danh sĩ 6 nước khác phục vụ nước Tần, ai không chịu phục vụ thì sẽ ám sát họ…

Lời bạch: Sau khi Tín Lăng Quân ‘thiết phù cứu Triệu’, nguyên khí nước Triệu vẫn bị tổn hao quá lớn. Sáu nước trong Chiến Quốc không thể một mình chống lại nước Tần. Trước trận chiến Trường Bình, đại thương nhân Lã Bất Vi nghĩ mọi cách kết giao với vương tôn Dị Nhân của nước Tần đang làm con tin ở nước Triệu, sau đó thuyết phục An Quốc Quân lập Dị Nhân làm con trai kế vị.

Năm 257 TCN, Lã Bất Vi hối lộ binh sĩ giữ cổng của nước Triệu, trong tình huống thành Hàm Đan bị vây khốn nhưng vẫn mang được Dị Nhân rời nước Triệu. Năm 249 TCN, Dị Nhân kế vị làm vua, đây là Tần Trang Tương Vương. Ba năm sau, Tần Trang Tương Vương băng hà, con trai ông là Doanh Chính kế vị. Đây chính là Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ sau này.

Lại nói, Tần Thuỷ Hoàng kế vị ngôi Hoàng đế khi chỉ mới 13 tuổi. Theo “Lã Bất Vi liệt truyện”, ông làm con tin 8 năm ở nước Triệu, đợi đến khi ông cố nội là Tần Chiêu Tương Vương qua đời, Tần Thuỷ Hoàng mới có thể trở lại nước Tần.

Bởi vì Tần Thuỷ Hoàng kế vị khi tuổi đời còn rất nhỏ, cho nên chính trị quốc gia nằm trong tay Lã Bất Vi. Năm 238 TCN, nước Tần phát sinh nội loạn Trường Tín Hầu Lao Ái, cuộc nổi loạn bị Tần vương dẹp sạch. Do cuộc nổi loạn này có liên quan đến Lã Bất Vi, cho nên Tần vương đã bãi chức Tướng quốc của Lã Bất Vi.

Vì danh tiếng của Lã Bất Vi rất lớn, cho nên chư hầu các nước mỗi lần đến Hàm Dương, đều đi bái kiến Lã Bất Vi, có thể nói sứ giả các nước cứ lũ lượt kéo đến bái kiến Lã Bất Vi. Một số nước còn thỉnh Lã Bất Vi đến nước họ làm quan. Qua một năm như vậy, Tần vương không thể chịu được bèn viết một phong thư hỏi Lã Bất Vi: “Rốt cuộc ông đã cống hiến bao nhiêu cho nước Tần mà được phong vương ở Hà Nam, có 10 vạn hộ hầu; ông rốt cuộc có quan hệ thân thích gì với nước Tần, đến nỗi tôi phải gọi ông là Trọng Phụ. Hiện tại tôi muốn lưu đày ông và gia đình đến Tứ Xuyên”.

Lã Bất Vi sau khi tiếp nhận phong thư, ông sợ Tần vương truy cứu trách nhiệm nên đã uống rượu độc tự tử. Theo “Tư trị thông giám” ghi lại: “Sau khi Lã Bất Vi mất, đại thần tôn thất của nước Tần tâu với Tần vương rằng: Phàm là bọn khách khanh đến nước Tần, chúng đều vì toan tính cho lợi ích nước chúng chứ không hết lòng vì nước Tần. Do đó thỉnh cầu đại vương trục xuất tất cả những người nước ngoài về nước”.

Lệnh này gọi là ‘Trục khách lệnh’. Trong những người bị trục xuất có một người là Lý Tư. Lý Tư khi đó là môn khách của Lã Bất Vi. Ông đã viết một phong thư cho Tần vương, đây là bức thư vô cùng nổi tiếng tên là ‘Gián trục khách thư’ (thư can gián việc trục xuất tân khách). Nó được ghi trong “Sử ký – Lý Tư liệt truyện”.

Trong thư, Lý Tư nhắc đến những khách khanh (cố vấn nước ngoài) và cống hiến của họ đối với nước Tần: “Năm đó khi Tần Mục Công tranh bá, thì những Bách Lý Hề, Kiển Thúc, Phi Báo, Công Tôn Chi, những mưu thần dũng tướng đó đều không phải người nước Tần.

Sau này Thương Ưởng từ nước Vệ sang nước Tần để cải cách pháp luật (biến pháp), Trương Nghi từ nước Nguỵ đến nước Tần giải tán liên minh hợp tung của chư hầu, Phạm Thư từ nước Nguỵ đến nước Tần chế định sách lược ‘viễn giao cận công’ thống nhất thiên hạ. Cho nên cống hiến của tân khách đối với nước Tần thật vô cùng to lớn”.

Lý Tư cuối cùng nói: “Thần nghe nói, Thái Sơn nếu không cho đất đắp lên thì không thể cao, nước biển không dung nạp suối nhỏ thì không thể sâu, Thánh nhân không từ chối dân thường mới có thể làm sáng cái đức, mà hôm nay nếu đem toàn bộ nhân tài ở nước khác đuổi ra khỏi Tần, họ vì nước Tần không có đất dụng võ mà đến nước khác, thế thì điều này đối với an toàn của nước Tần sẽ là uy hiếp lớn nhất”. Tần vương đọc xong lá thư liền lập tức dỡ bỏ lệnh trục xuất khách khanh.

Nguyên nhân trục khách khanh, ở những chương tiết khác nhau trong “Sử ký” có lý giải khác nhau. Trong “Sử ký – Lý Tư liệt truyện” đưa ra một cách nói khác: “Khi đó nước Hàn có một công trình sư, họ Trịnh tên Quốc. Ông ta từ nước Hàn đến nước Tần, mang theo một sứ mệnh, chính là khiến nước Tần tốn lượng lớn tiền tài để xây dựng và tu sửa thuỷ lợi. Nước Hàn hy vọng thông qua công trình sư như vậy để chuyển sự tập trung của nước Tần từ chiến tranh sang công việc trong nước.

Kết quả sự việc này bị phát hiện khiến Tần vương rất tức giận, ông bèn muốn trừng phạt Trịnh Quốc. Trịnh Quốc nói: ‘Công trình thuỷ lợi này tuy rằng hao phí tiền tài trong vài năm, nhưng cái lợi của nó là thiên thu vạn đại’. Cho nên sau đó Tần vương còn để Trịnh Quốc xây dựng công trình thuỷ lợi”. Sau khi hoàn thành đây là kênh đào Trịnh Quốc rất nổi tiếng hiện nay.

Trong “Sử ký – Hà cừ thư” có ghi lại: “Kênh đào Trịnh Quốc khi xây dựng đã đào rất nhiều đất, dùng đất đó để bồi đắp chỗ trũng và phủ lên chỗ đất ngập mặn của nước Tần, khiến cho vùng Quan Trung tăng thêm 4 triệu mẫu đất màu mỡ”. Trong “Hà cừ thư” còn nói thêm: “Quan Trung vì đất đai màu mỡ nên không có năm nào mất mùa, Tần nhờ vậy mà nước giàu binh mạnh, nguyên nhân là nhờ có kênh đào Trịnh Quốc”.

Khi đó Tần vương đã phát hiện kế hoạch, âm mưu của Trịnh Quốc. Tần vương cảm thấy những người nước khác đến nước Tần, bao gồm cả công trình sư như Trịnh Quốc, họ đều vì nước họ mà toan tính, cho nên ông muốn trục xuất tất cả khách khanh nước ngoài. Đây là một cách giải thích khác của “Lệnh trục xuất môn khách”.

“Thư can gián việc trục xuất tân khách” (Gián trục khách thư – 諫逐客書) của Lý Tư đã thay đổi cách nhìn nhận của Tần vương. Tần vương đã tự mình đến bái kiến Lý Tư. Lý Tư khi đó đề xuất cho Tần vương một chủ ý. Trong “Tư trị thông giám” có ghi lại: “Hy vọng Tần vương lấy ra một món tiền để đến các nước. Nếu có thể mua chuộc những người giàu có hoặc người nổi tiếng của các nước, thì để họ phục vụ nước Tần. Còn nếu họ không bị mua chuộc thì ám sát họ. Như thế trong quá trình thống nhất thiên hạ, trở lực sẽ giảm đi rất rất nhiều”.

Lời bạch: Bức thư Lý Tư can gián Tần vương trục xuất tân khách đã thay đổi chủ kiến của Tần vương, Tần vương đã tiêu huỷ lệnh đó và gọi Lý Tư vào cung. Lý Tư hiến kế sách thống nhất thiên hạ, tức là sử dụng lượng lớn tiền của mua chuộc danh sĩ nhằm phục vụ nước Tần, ai không chịu phục vụ thì sẽ ám sát họ. Cách làm này không lấy sức mạnh quân sự để thống nhất thiên hạ, mà là dùng kế ly gián chia rẽ rồi làm suy yếu 6 nước còn lại. Như thế phí tổn thống nhất thiên hạ đã giảm xuống đáng kể. 16 năm sau, toàn bộ 6 nước đã bị diệt vong. Vậy thì Lý Tư là người như thế nào mà lợi hại đến vậy?

Lý Tư là một trong những nhân vật đại biểu của Pháp gia, nguyên quán của ông là vùng Thượng Thái (nay là vùng phụ cận huyện Thái tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Thời trẻ ông từng làm chức quan nhỏ ở đó. Có một lần ông đi đến nhà vệ sinh, thấy trong nhà vệ sinh có chuột. Đương nhiên nhà vệ sinh rất dơ rất hôi, còn thường xuyên có người và chó đến nữa. Chuột thấy vậy sợ quá bỏ chạy. Ông đến kho thóc, thấy trong đó cũng có chuột, con nào con nấy vừa mập vừa to, khi thấy người chúng không hề sợ hãi. Lý Tư nói: “Người cũng giống như chuột vậy, tiền đồ của bạn như thế nào, phải nhìn xem bạn ở chức vị như thế nào”. Cho nên nói triết học nhân sinh của Lý Tư thực ra là triết học của loài chuột.

Sau này Lý Tư đến chỗ Tuân Tử để học ‘thuật đế vương’, cũng gọi là ‘thuật bá vương’. Sau khi học thành tài, khi Lý Tư cáo biệt Tuân Tử có nói một câu: “Người sống ở đời, ti tiện (nghèo hèn) là sỉ nhục lớn nhất, khốn cùng là buồn đau lớn nhất, cho nên kẻ học trò này nhất định mưu cầu phú quý”.

Lý Tư quan sát khắp 7 nước, ông cho rằng chỉ nước Tần là có hy vọng, thế là ông rời Thượng Thái nước Sở để đến nước Tần. Sau đó ông nương nhờ người đang có quyền thế rất lớn (1) bấy giờ là Thừa tướng Lã Bất Vi, làm môn khách ở đó.

Lý Tư là một trong những nhân vật đại biểu của Pháp gia, Pháp gia là Âm mưu gia, cho nên chủ ý Lý Tư đề xuất cho Tần vương là âm mưu không dựa vào thực lực quân sự mà dựa vào sự ly gián quân – thần các nước chư hầu, hoặc là mua chuộc những người có tài của nước khác, hoặc là ám sát họ nếu họ không hợp tác. Những quốc gia bị như thế trên cơ bản không có khả năng chống lại nước Tần. Nước Triệu là một ví dụ rất điển hình.

Đại tướng quân Liêm Pha của nước Triệu đánh trận vô cùng lợi hại. Sau này Liêm Pha xảy một chút mâu thuẫn với Triệu vương nên đã đến nước Nguỵ. Sau khi Liêm Pha rời nước Triệu, sức mạnh quân sự của nước Triệu suy yếu đáng kể, lần lượt liên tiếp bị nước Tần tấn công, lần lượt liên tiếp thất bại. Triệu vương muốn đưa Liêm Pha trở về nước, ông phái một sứ giả đến nước Nguỵ để gặp Liêm Pha.

Trước khi sứ giả xuất phát, gián điệp của nước Tần đã đến nước Triệu. Gián điệp nước Tần khi đó mang theo một vạn cân vàng kim tặng cho một người là Quách Khai. Quách Khai là một hoạn quan, một nịnh thần rất được Triệu vương sủng ái.

Quách Khai lấy một phần tiền để hối lộ sứ giả mà Triệu vương phái đi gặp Liêm Pha. Ông ta nói với sứ thần: “Liêm Pha là kẻ thù của ta, ngươi nhất định phải nói xấu ông ta trước mặt Triệu vương”. Sứ giả đi gặp Liêm Pha, Liêm Pha muốn trở về để dốc sức vì nước Triệu. Trước mặt sứ giả, ông đã ăn một đấu gạo, mười cân thịt. Ăn xong, Liêm Pha mặc giáp, lên ngựa để bày tỏ tuy tuổi ông đã cao nhưng vẫn có thể tiếp tục xuất binh đánh trận.

Sứ thần về báo lại Triệu vương nói: “Liêm Pha tướng quân tuy tuổi cao, vẫn còn ăn rất khoẻ, nhưng ông ấy nói chuyện một lúc đã đi vệ sinh ba lần”. Triệu vương nghĩ khi lão tướng quân đánh trận, sao có thể đi vệ sinh nhiều lần như vậy được. Thế là Triệu vương không dùng Liêm Pha. Liêm Pha ở Nguỵ cũng không lưu lại được nữa, ông lại đến Sở, sau đó uất ức mà chết.

Năm 234 TCN, nước Tần phái đại tướng quân Hoàn Nghĩ tấn công nước Triệu, giết được đại tướng quân Hỗ Triếp của nước Triệu, chém 10 vạn thủ cấp. Nước Triệu bại trận vô cùng thảm thương. Triệu vương bất đắc dĩ phải dùng danh tướng cuối cùng thời Chiến Quốc là Lý Mục.

Lý Mục đánh trận vô cùng vô cùng lợi hại. Trong “Sử ký” không có chương riêng dành cho ông. Câu chuyện của ông nằm phần phía sau trong “Liêm Pha – Lạn Tương Như liệt truyện”. Trong phần cuối đó có cả Triệu Xa, Triệu Quát và Lý Mục. Thời trẻ Lý Mục từng chiến đấu với quân Hung Nô, từng đánh quân Hung Nô đến độ mười mấy năm sau chúng cũng không dám xâm phạm biên giới nước Triệu. Lý Mục dùng binh lợi hại, ngang với Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh thời Hán Vũ Đế. Ông chưa bao giờ bại trận.

Lý Mục xuất chiến, lập tức đánh bại đại tướng Hoàn Nghĩ của nước Tần. Triệu vương phong Lý Mục làm Vũ An Quân, đây là năm 234 TCN. Năm năm sau, nước Tần lại tấn công nước Triệu. Người cầm binh lần này là đại tướng Vương Tiễn. Hai quân của Vương Tiễn và Lý Mục đứng đối diện nhau. Vương Tiễn biết mình rất khó đánh thắng Lý Mục, thế là Vương Tiễn lại một lần nữa dùng… Quách Khai, dùng một vạn cân vàng kim mua chuộc Quách Khai.

Quách Khai gièm pha Lý Mục với Triệu vương, nói: “Con người Lý Mục này có qua lại lén lút với nước Tần, chuẩn bị đầu hàng nước Tần”. Triệu vương liền tin, phái một người tên Triệu Thông đến đoạt lấy binh quyền của Lý Mục. Lý Mục khi đó cự tuyệt trao trả ấn tướng, nhưng ông biết rằng Triệu vương sẽ không cho ông tiếp tục làm tướng quân. Lý Mục không có cách nào chỉ huy quân đội nước Triệu, cho nên giữa đêm ông bỏ lại ấn tướng trong doanh trại, sau đó giả trang thành bình dân để đào thoát. Nhưng thật không may, ông bị Triệu Thông bắt lại sau đó bị giết.

Lý Mục là bức tường vững chắc của nước Triệu. Lý Mục hễ mất, nước Triệu cũng không còn ai có thể chống lại nước Tần, do đó chỉ trong vòng 3 tháng sau, nước Triệu diệt vong, lúc này là năm 230 TCN. Nước Triệu là nước thứ hai trong số sáu nước bị nước Tần tiêu diệt – sau nước Hàn.

Chú thích:

(1) Nguyên gốc là Chá thủ khả nhiệt – 炙手可熱: chạm tay vào có thể bỏng, quyền lực rất lớn.

Theo Epoch Times
Mạn Vũ biên dịch